Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

IDC Việt Nam: CNTT trong y tế là yếu tố then chốt

Được biết, chi tiêu CNTT trong ngành y tế ở Việt Nam trong năm 2014 đạt 18 triệu USD, đạt mức tăng trưởng 12,5% so với năm 2013.





Theo số liệu Vietnam IT Spending Blackbook 2015 quý 1/2015 của IDC, chi tiêu CNTT trong ngành y tế ở Việt Nam trong năm 2014 đạt 18 triệu USD, đạt mức tăng trưởng 12,5% so với năm 2013. Chi tiêu công nghệ thông tin (CNTT) của ngành y tế Việt Nam vẫn tập trung lớn vào mảng thiết bị phần cứng với tỷ lệ 69,1% trong tổng chi tiêu CNTT, theo sau đó là dịch vụ IT với 20,5% và phần mềm với tỷ lệ 10,3%.
Trong năm 2014, chi tiêu CNTT của ngành y tế tập trung vào các bệnh viện tại khu vực phía Bắc như Bệnh Viện Phụ Sản Trung ương, bệnh viện Nhi Trung ương, hay bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hà Tĩnh theo chỉ thị 02/CT-BYT ngày 25/2/2009 của Bộ Y tế về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong ngành y tế. Ngoài ra, trong năm 2014 các bệnh viện tại khu vực miền Nam Bộ như Long An, và Trà Vinh cũng đẩy mạnh đầu tư vào ứng dụng CNTT nhằm nâng cao quản lý hoạt động của bệnh viện.

Bên cạnh chi tiêu CNTT của các bệnh viện công, các bệnh viện tư nhân cũng đầu tư mạnh cho các giải pháp CNTT nhằm nâng cao quản lý cũng như dịch vụ y tế cho người dân. Cụ thể, tháng 3 năm 2014, Hoàn Mỹ, một bệnh viện tư với 5 chi nhánh tại Việt Nam đã đầu tư vào giải pháp Oracle ERP nhằm tăng hiệu quả quản lý và dịch vụ của Hoàn Mỹ. Việc gia tăng đầu tư vào mảng y tế của các bệnh viện tư như hệ thống Vinmec của tập đoàn Vingroup sẽ đẩy mạnh thêm việc ứng dụng CNTT y tế tại Việt Nam.
Theo khảo sát Vietnam C-Suite Barometer Survey 2015 của IDC, trong đó phỏng vấn các giám đốc cấp cao về “vai trò của CNTT trong tổ chức y tế Việt Nam 2015-2016”, kết quả có 50% người được phỏng vấn trả lời “CNTT là một yếu tố thúc đẩy tăng năng suất và tối ưu hóa quy trình kinh doanh”, và 17% cho rằng vai trò của CNTT sẽ giúp tạo ra những cơ hội và thâm nhập những thị trường mới.

Cũng trong khảo sát Vietnam C-Suite Barometer Survey 2015 của IDC, công nghệ dữ liệu (big data) và analytics là công nghệ quan trọng được các lãnh đạo bệnh viện quan tâm nhất nhằm tăng cường vị thế cạnh tranh trong 2015-2016 với tỷ lệ 50%, sau đó là IoT với mức 17%, bảo mật thông tin hay quản lý rủi ro với 17% và cuối cùng là giải pháp di động với 16%.
"Việc gia tăng mối quan tâm đầu tư cho nền tảng thứ 3, đặc biệt các giải pháp dữ liệu lớn sẽ là một bước ngoặc mới cho ngành y tế Việt Nam khi mà các bệnh viện cần chú trọng hơn nữa trong việc đẩy mạnh thị phần dịch vụ chăm sóc sức khỏe của mình tại thị trường Việt Nam”, ông Hà Ngọc Khương, chuyên viên phân tích thị trường của IDC nhận định.
Với chủ trương đẩy mạnh triển khai các dự án công nghệ thông tin (CNTT) bệnh viện với mục tiêu 100% bệnh viện trung ương, tuyến tỉnh và 80% bệnh viện huyện ứng dụng thành công CNTT trong công tác quản lý bệnh viện vào 2015 của Bộ Y Tế, IDC dự báo chi tiêu CNTT cho ngành y tế tại Việt Nam đạt 20 triệu USD trong năm 2015 với mức tăng trưởng 11,1%.

VINASA: Phải có chính sách ưu đãi thuế cao nhất cho ngành CNTT

Theo đánh giá của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), chính sách ưu đãi thuế cho lĩnh vực CNTT hiện hành còn nhiều điểm bất cập.

Bước lùi về ưu đãi thuế
Trao đổi với ICTnews, ông Lê Xuân Hòa, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) cho biết VINASA đã phối hợp với Hội Tư vấn thuế Việt Nam xây dựng báo cáo đề xuất chính sách ưu đãi thuế cho lĩnh vực CNTT. Báo cáo này vừa được Hiệp hội trình bày tại phiên họp lần thứ 2 của Ủy ban Quốc gia về ứng dụng CNTT ngày 28/9/2015, sau đó được tổng hợp trình Chính phủ tại kỳ họp Chính phủ thường kỳ cuối tháng 9/2015.
Theo phân tích của VINASA, chính sách ưu đãi thuế cho lĩnh vực CNTT hiện hành còn nhiều điểm bất cập.
"Cụ thể, phạm vi ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cho ngành CNTT hiện tại đang thấp hơn so với giai đoạn 2001 - 2008, thể hiện ở 2 điểm: Ưu đãi thuế TNDN trước áp dụng cho cả hoạt động sản xuất và dịch vụ phần mềm (gồm cả một số hoạt động dịch vụ CNTT), còn hiện nay chỉ áp dụng cho hoạt động sản xuất phần mềm; Ưu đãi thuế TNCN cho cá nhân làm phần mềm (gồm sản xuất phần mềm và dịch vụ phần mềm) theo mức ưu đãi áp dụng cho người nước ngoài giờ cũng không có ưu đãi.
Mặt khác, phạm vi ưu đãi hiện tại cho ngành CNTT chưa theo kịp sự phát triển của ngành. Hiện chỉ ưu đãi cho sản xuất và dịch vụ  phần mềm, không ưu đãi cho dịch vụ CNTT, trong khi trên thực tế, hoạt động sản xuất phần mềm, dịch vụ phần mềm và dịch vụ CNTT có liên quan chặt chẽ với nhau, giao thoa với nhau và là nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển lẫn nhau.
Ngoài ra, chính sách ưu đãi thuế hiện tại chưa đồng nhất với quan điểm về ưu đãi thuế cho ngành CNTT trong Luật CNTT, Luật Công nghệ cao và Luật Đầu tư, khi các Luật này xác định ngành CNTT, phần mềm, được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế", ông Lê Xuân Hòa nói.
Phạm vi ưu đãi thuế TNDN, thuế TNCN cho ngành CNTT hiện tại đang thấp hơn so với giai đoạn 2001 – 2008. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Phạm vi ưu đãi thuế TNDN, thuế TNCN cho ngành CNTT hiện tại đang thấp hơn so với giai đoạn 2001 – 2008. Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Đề xuất chính sách ưu đãi thuế đồng bộ, thống nhất hơn
Với tầm quan trọng của ngành CNTT, với cơ hội đứng trước sự bứt phá trong phát triển của ngành CNTT, VINASA đã kiến nghị Chính phủ áp dụng chính sách ưu đãi cao nhất về thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế TNCN đối với ngành CNTT (gồm cả 3 lĩnh vực: sản xuất phần mềm, dịch vụ phần mềm và dịch vụ CNTT).
Về thuế GTGT, ông Lê Xuân Hòa phân tích: "Nhiều công ty kinh doanh trong lĩnh vực CNTT đề nghị sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm được áp dụng thuế suất 0%. Song kiến nghị này của các công ty là không thể thực hiện được vì trái với quy định của Luật Thuế GTGT (Luật Thuế GTGT quy định: “Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế”).
Muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phần mềm không phải nộp thuế GTGT đầu ra nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì có thể kiến nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét cho phép: bổ sung nhóm sản phẩm, dịch vụ phần mềm, cùng với một số nhóm khác như thức ăn gia súc, gia cầm, máy móc trực tiếp phục vụ cho nông nghiệp; giáo dục, y tế vào nhóm đối tượng: “Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT”. Nếu được chấp nhận, sản phẩm và dịch vụ phần mềm sẽ không phải nộp thuế GTGT khi bán sản phẩm, cung ứng dịch vụ nhưng vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định".
Về thuế TNDN, luật hiện hành quy định: "Sản xuất phần mềm được hưởng ưu đãi ở mức áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm; đối với dự án đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư thì căn cứ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ quyết định kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi; nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 năm (tổng cộng áp dụng thuế suất 10% không quá 30 năm). Dịch vụ phần mềm và dịch vụ CNTT chưa được ưu đãi thuế TNDN.
"Nếu nhìn vào chính sách hiện tại có thể thấy chưa đồng bộ khi chính sách thuế GTGT có ưu đãi cho dịch vụ phần mềm nhưng chính sách thuế TNDN lại không ưu đãi. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị Chính phủ bổ sung quy định ưu đãi thuế TNDN cho hoạt động dịch vụ phần mềm, dịch vụ CNTT như đối với hoạt động sản xuất phần mềm", ông Lê Xuân Hòa nói.
Về thuế TNCN, Luật Thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn hiện hành không quy định ưu đãi thuế TNCN cho người lao động làm việc trong lĩnh vực CNTT cũng như các lĩnh vực khác.
Theo phân tích của VINASA và nhiều chuyên gia trong ngành CNTT, để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc trong nước, hạn chế chảy máu chất xám ra nước ngoài do các cá nhân có trình độ chuyên môn cao, làm việc tại nước có chính sách thuế TNCN thấp để tránh thuế..., có thể quy định việc miễn giảm thuế TNCN cho lĩnh vực này theo một trong hai phương án: Thứ nhất, sửa đổi Luật Thuế TNCN để quy định ưu đãi thuế TNCN đối với nhân lực ngành CNTT. Thứ hai, bổ sung quy định giảm thuế TNCN đối với nhân lực công nghệ cao và nhân lực CNTT trong hoạt động sản xuất phần mềm, dịch vụ phần mềm và dịch vụ CNTT như đã giảm 50% thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công làm tại các khu kinh tế.
"Phương án thứ hai có tính khả thi hơn phương án thứ nhất. Vì hiện tại, theo Điều 29 Luật Công nghệ cao về thu hút, sử dụng nhân lực công nghệ cao có quy định Nhà nước có cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất về thuế TNCN. Tuy nhiên, luật thuế hiện hành chưa hướng dẫn nội dung này.
Hoạt động CNTT, trong đó có sản xuất phần mềm, dịch vụ phần mềm là hoạt động đặc thù. Đặc điểm của ngành CNTT mà trước đây chúng ta chưa nhận thức được đây là ngành mà công việc được thực hiện qua mạng máy tính. Các cá nhân, người tạo lập, viết sản phẩm phần mềm không nhất thiết phải ngồi làm việc tại khu kinh tế, khu công nghệ cao... mới có thể tạo ra sản phẩm; mà với máy tính xách tay bên mình họ có thể ngồi bất cứ đâu để hoàn tất sản phẩm của mình.
Đơn cử như Nguyễn Hà Đông, em viết trò chơi Flappy bird không phụ thuộc em đang ở đâu, nhưng sản phẩm của em đã được hàng triệu người trên thế giới sử dụng. Đề xuất miễn giảm thuế TNCN đối với nhân lực CNTT sẽ tạo điều kiện để thu hút nhân lực công nghệ cao, khuyến khích nguồn nhân lực tham gia hoạt động công nghệ cao và CNTT", ông Lê Xuân Hòa chia sẻ thêm.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Khát Vọng Công Nghệ Thông Tin Việt

Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng AnhInformation Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụngmáy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.[1]
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".[2]
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)." [3]
Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanhphim ảnhvăn bảnvà thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông.[4] Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tinđiện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính.

Thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thông tin
Từ tiếng Anh Information (hay còn gọi là Thông tin trong Tiếng Việt) bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin với từ gốc (information) của từ được bổ nhiệm (informatio): đây là danh từ có gốc từ động từ Informare có ý nghĩa như: kỷ luậthướng dẫndạy và đưa hình thức vào tâm trí.

Công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: công nghệ
Chi tiêu công nghệ và truyền thông năm 2005.
Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tínhhệ thống thông tin,phần cứng máy tínhngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối vớikhách hàng và các công cụ sản xuất.
Các chuyên gia IT tham gia xây dựng nhiều các chức năng khác nhau từ phạm vi cài đặt phần mềm ứng dụng đến thiết kế mạng máy tính phức tạp và cơ sở dữ liệu thông tin. Một vài công việc mà các chuyên gia thực hiện có thể bao gồm quản lý dữ liệu, mạng, kỹ thuật phần cứng máy tínhthiết kế phần mềm và thiết kế cơ sở dữ liệu cũng như quản lý, quản trị toàn bộ hệ thống. Công nghệ thông tin bắt đầu lan rộng hơn nữa so với máy tính cá nhân và công nghệ mạng thông thường, và có nhiều tích hợp các công nghệ khác như sử dụng điện thoại di độngti vixe máy và nhiều nữa, và làm tăng trưởng nhu cầu nghề nghiệp cho các công việc đó.
Trong thời gian gần đây, Hội đồng Quản trị Tín nhiệm Cơ khí và Công nghệ và Hiệp hội Kỹ thuật máy tính đã hợp tác để hình thành tiêu chuẩn và chương trình giảng dạy cho các chứng chỉ ngành Công nghệ Thông tin như là một ngành học so với ngành Khoa học máy tính và Hệ thống thông tin ngày nay. SIGITE (Nhóm yêu thích đặc biệt về giáo dục IT) là nhóm làm việc ACM để định nghĩa các tiêu chuẩn trên. Các dịch vụ IT toàn cầu có tổng doanh thu $763 tỉ USD năm 2009.

Quy mô và tăng trưởng của công nghệ thông tin

Hilbert và Lopez xác định tốc độ theo cấp số nhân về sự thay đổi công nghệ (một dạng của định luật Moore) như sau: năng suất ứng dụng máy móc chuyên dụng để tính toán thông tin bình quân đầu người đã tăng gần gấp đôi với chu kỳ 14 tháng từ năm 1986 đến năm 2007; năng suất bình quân đầu người về mục đích sử dụng máy tính nói chung trên thế giới đã tăng gấp đôi mỗi 18 tháng trong suốt hai thập kỉ; năng suất viễn thông toàn cầu bình quân đầu người tăng gấp đôi mỗi 34 tháng; khả năng lưu trữ bình quân đầu người trên thế giới tăng gấp đôi mỗi 40 tháng (3 năm) và thông tin phát sóng bình quân đầu người tăng gấp đôi khoảng 12,3 năm.